Giờ trên giấy khai sinh là giờ của nơi ấy, không phải giờ quê nhà.
Người Việt sinh ở Mỹ, Úc, Nhật, Đài Loan hay châu Âu hay gặp lá số sai vì quy nhầm giờ. Bài này đo mức sai và chỉ cách làm đúng.
Kiểm lần cuối ngày 11 tháng 9 năm 2026
Có, và khác ở chỗ nguy hiểm nhất là giờ sinh. Nếu quy thời điểm sinh về giờ Việt Nam rồi mới tra lịch, người sinh ở bờ Tây nước Mỹ lệch ngày âm ở 62,3 phần trăm số ca. [ĐO]
| Nơi sinh | Chênh với UTC+7 | Tỷ lệ lệch ngày âm |
|---|---|---|
| Việt Nam | 0 giờ | 0% |
| Mỹ, bờ Tây | 14 tới 15 giờ | 62,3% |
| Mỹ, bờ Đông | 11 tới 12 giờ | 49,8% |
| Úc phía Đông | 3 tới 4 giờ | 12,6% |
| Nhật, Hàn | 2 giờ | khoảng 8% |
| Đài Loan, Singapore | 1 giờ | 4,2% |
Theo đồng hồ nơi sinh. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất: ngày sinh và giờ sinh phải cùng một hệ quy chiếu, không được lấy ngày một nơi và giờ một nơi.
Sai lầm phổ biến nhất không phải là chọn nhầm hệ, mà là trộn hai hệ: đổi ngày về giờ Việt Nam nhưng giữ nguyên giờ địa phương, hoặc ngược lại. Khi đó lá số không thuộc về ai cả.
| Khoản | Tính theo giờ California | Quy nhầm về giờ Việt Nam |
|---|---|---|
| Giờ trên giấy khai sinh | 7 giờ sáng | 7 giờ sáng |
| Quy đổi | giữ nguyên | thành 22 giờ |
| Chi giờ | Giờ Thìn | Giờ Hợi |
| Lệch bao nhiêu | đúng | lệch bảy cung |
Có, và rất hay bị bỏ sót. Nếu bạn sinh vào mùa hè ở Mỹ, Canada, châu Âu hay Úc, giờ trên giấy khai sinh có thể đã là giờ mùa hè, sớm hơn giờ chuẩn một tiếng.
| Nơi và thời kỳ | Chuyện gì xảy ra |
|---|---|
| Mỹ, năm 1974 | Bật giờ mùa hè từ mùng 6 tháng Giêng vì khủng hoảng dầu |
| Hàn Quốc, 1955 tới 1960 | Chuẩn là UTC+8:30, giờ hè thành UTC+9:30 |
| Nhật, 1948 tới 1951 | Có giờ mùa hè, sau đó bãi bỏ |
| Đài Loan, tới 1979 | Còn giờ mùa hè, sau đó thôi |
| Trung Quốc, 1942 tới 1945 | Giữ giờ mùa hè liên tục suốt cả năm |
Nhiều nơi có. Việt Nam dùng UTC+8 từ cuối 1959 tới giữa 1975. Hàn Quốc dùng UTC+8:30 từ 1954 tới 1961. Singapore dùng UTC+7:30 tới hết năm 1981. [GỐC]
| Nơi | Thời kỳ | Múi giờ lúc đó |
|---|---|---|
| Sài Gòn | 1959 tới 1975 | UTC+8 |
| Việt Nam | từ 13/06/1975 | UTC+7 |
| Hàn Quốc | 1954 tới 1961 | UTC+8:30 |
| Singapore | tới 31/12/1981 | UTC+7:30 |
| Đài Loan | 1937 tới 1945 | UTC+9 |
| Anh | 1968 tới 1971 | UTC+1 quanh năm |
Nghĩa là người sinh ở Sài Gòn năm 1965 lúc 7 giờ sáng thì đồng hồ khi ấy chạy ở UTC+8, không phải UTC+7 như bây giờ.
Múi giờ là quy ước hành chính, không phải mặt trời. Singapore ở kinh độ 104 mà dùng múi giờ UTC+8, nên mặt trời ở đó lên đỉnh muộn hơn đồng hồ gần một tiếng. [ĐO]
| Nơi | Kinh độ | Mức hiệu chỉnh |
|---|---|---|
| Singapore | 103,8 độ Đông | trừ 65 phút |
| Perth | 115,9 độ Đông | trừ 17 phút |
| Đài Bắc | 121,5 độ Đông | cộng 6 phút |
| Hà Nội | 105,8 độ Đông | cộng 3 phút |
Chia canh giờ theo đồng hồ ở những nơi lệch xa tâm múi giờ là chia sai. Trang này hiệu chỉnh tự động cho nơi sinh ngoài Việt Nam, và để tắt cho Việt Nam vì mức hiệu chỉnh ở đó chỉ vài phút.
Bốn bước: lấy ngày và giờ theo đồng hồ nơi sinh, chọn đúng nơi sinh, để phần mềm hiệu chỉnh giờ mặt trời thật, và xem cảnh báo nếu ngày sinh rơi sát ranh giới.
| Bước | Làm gì |
|---|---|
| Một | Lấy nguyên ngày và giờ ghi trên giấy khai sinh, không tự quy đổi |
| Hai | Chọn NƠI SINH, không phải nơi đang sống |
| Ba | Để phần mềm hiệu chỉnh theo kinh độ và múi giờ lúc đó |
| Bốn | Nếu có cảnh báo hai lá số thì xem cả hai rồi tự chọn |
Nơi sinh. Đây là chỗ nhiều người nhầm. Lá số dựng từ thời điểm bạn sinh ra, nên mọi thứ phải quy về chỗ đó, dù bây giờ bạn sống ở đâu.
Người Việt sinh ở Việt Nam rồi sang Mỹ sống thì chọn Việt Nam. Người Việt sinh ở Mỹ thì chọn Mỹ, dù cả nhà nói tiếng Việt.
Trong 13 trang tử vi chúng tôi mở ra xem ngày 11/09/2026, không một trang nào nói về quy đổi giờ sinh khi sinh ngoài Việt Nam. [ĐO]
Thứ gần nhất là một ô chọn múi giờ trên một trang, nhưng không kèm một dòng giải thích nào. Ô chọn không nói cho người dùng biết vì sao phải chọn, và chọn sai thì hỏng ở đâu.
Không. Chúng tôi để tắt phần hiệu chỉnh mặt trời cho nơi sinh Việt Nam, và kiểm lại 144 lá số thấy trùng khít bản cũ, không sai một cung nào. [ĐO]
Đây là chủ ý. Thêm một tính năng mà làm đổi kết quả của những lá số đã lập trước đó là làm hỏng lòng tin, dù về mặt thiên văn thì hiệu chỉnh vài phút ấy đúng hơn.
Thì lá số có thể lệch cả vòng, vì giờ sinh là khoản định vị trí cung Mệnh. Nên hỏi lại người nhà hoặc tìm giấy chứng sinh trước khi lập.
Bài riêng: Không biết giờ sinh thì lập lá số tử vi được không.
Kinh độ lấy theo thành phố lớn nhất của vùng chứ không theo đúng nơi sinh, nên trong cùng một vùng vẫn lệch vài phút. [CHƯA KIỂM]
Thêm nữa, miền Bắc Việt Nam trước 13/06/1975 ở UTC+7 còn miền Nam ở UTC+8, mà hiện chúng tôi dùng chung một mục Việt Nam. Ca đó chưa tách được, và chúng tôi ghi ra đây thay vì để người dùng tự vấp.
Số người Việt tại Mỹ là khoảng 2,3 triệu theo Pew Research năm 2023, tại Úc khoảng 258 nghìn người sinh tại Việt Nam theo Census 2021. [BÊN THỨ BA]
| Nước | Số người | Năm | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Mỹ | 2.300.000 | 2023 | Pew Research |
| Nhật | 634.361 | cuối 2024 | Cơ quan Lưu trú Nhật |
| Canada | 275.530 | 2021 | Census |
| Úc | 257.997 sinh tại VN | 2021 | Cục Thống kê Úc |
Con số nào cũng đếm theo một cách khác nhau, nên không so trực tiếp được với nhau. Chúng tôi ghi nguyên cách đếm của từng nguồn.
Lá số lập ngay trên máy bạn, không cần tài khoản.
Và bạn soi lại được các năm đã qua để tự chấm xem lời nhắc có trúng hay không.
Lập lá số